Hạn chế quyền ly hôn đối với người chồng

Vợ chồng đều có quyền ly hôn để chấm dứt quan hệ giữa họ. Tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về việc hạn chế quyền ly hôn của người chồng.

Quyền ly hôn

Nếu như kết hôn là việc tạo lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn thì ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014, vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Ly hôn có thể theo yêu cầu của một bên (ly hôn đơn phương) hoặc ly hôn thuận tình khi cả hai vợ chồng đều thống nhất ý chí.

Ngoài ra, cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.


Hạn chế quyền ly hôn của người chồng

Chúng ta biết rằng, cha mẹ phải có nghĩa vụ thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội; trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Chính vì vậy, việc vợ chồng ly hôn có ảnh hưởng rất lớn đến trẻ nhỏ. Do vậy, pháp luật cũng hạn chế quyền của người chồng trong việc ly hôn ở trong một số trường hợp nhất định.

Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi“. Quy định này được đặt ra nhằm mục đích chính là bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em.

Như vậy, để đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ và trẻ em, pháp luật hạn chế quyền li hôn của người chồng trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Trên thực tế, việc xác định người vợ đang nuôi con dưới 12 tháng dựa trên sự thực là người vợ đang chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng con dưới 12 tháng, do vậy khi thực hiện quy định sẽ phát sinh tranh chấp, vướng mắc trong một số trường hợp cụ thể  mà chúng ta cần phải xác định xem người chồng có được quyền đơn phương ly hôn hay không, chẳng hạn như:

  • Trường hợp người phụ nữ sinh con dưới 12 tháng tuổi nhưng không nuôi con, thì trên thực tế họ không được xét vào trường hợp mang thai/ sinh con/ đang nuôi con, như vậy người chồng vẫn có thể đơn phương ly hôn;
  • Người phụ nữ mang thai hộ cho người khác thì về nguyên tắc người phụ nữ vẫn được coi là đang mang thai và người chồng không có quyền ly hôn;
  • Người phụ nữ nhờ người khác mang thai hộ, nên trên thực tế họ cũng không được xác định là đang mang thai/sinh con/nuôi con dưới 12 tháng tuổi, nên trong trường hợp này người chồng không bị hạn chế quyền ly hôn;
  • Trường hợp người phụ nữ nhận nuôi con nuôi (hợp pháp theo quy định của pháp luật) mà đứa con dưới 12 tháng tuổi thì về nguyên tắc người chồng cũng bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn.

Trên đây là những nội dung về hạn chế quyền ly hôn đối với người chồng mà PL LAW chia sẻ đến bạn đọc. Nếu có thắc mắc hoặc ý kiến, mời bạn đọc bình luận ở phần dưới đây.